Bến Tre có điều kiện tốt thực hiện “Mỗi xã một sản phẩm”

Ngày đăng bài: 22/08/2017 | Tác giả: Phương Bình

Đó là khẳng định của PGS-TS Trần Văn Ơn - Trưởng bộ môn Thực vật, Trường đại học Dược Hà Nội, Tư vấn trưởng OCOP - QN (Chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" của tỉnh Quảng Ninh) tại Hội nghị chuyên đề "Mỗi xã, phường một sản phẩm" do UBND tỉnh vừa tổ chức.

Cây ăn trái, hoa kiểng, cây giống, huyện Chợ Lách, Châu Thành là thế mạnh để triển khai thực hiện Đề án: Mỗi xã, phường một sản phẩm. (Ảnh: Phương Bình)

PGS-TS Trần Văn Ơn cho biết, tỉnh Bến Tre đã có những nông sản được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận và điều kiện vùng sản xuất của các địa phương. Trong đó, đáng chú ý là bò Ba Tri; hoa kiểng, cây giống, cây ăn trái ở Chợ Lách, Châu Thành; các làng nghề chế biến cá khô,... Đặc biệt, Bến Tre có một điều kiện tuyệt vời mà không địa phương nào có được đó là một vùng sản xuất dừa quy mô cả tỉnh. Ngoài ra, nền tảng quan trọng về chủ trương, chính sách mà Bến Tre đang có, đó là các chương trình xây dựng, hoàn thiện chuỗi giá trị liên kết 8 sản phẩm nông nghiệp chủ lực; ưu tiên các nhà đầu tư công nghệ cao để vừa phát triển nông nghiệp, nông thôn kết hợp với du lịch sinh thái.

PGS-TS Trần Văn Ơn cho rằng trong thời gian qua, nhà nước đã triển khai nhiều chủ trương nhằm giúp nông dân thoát khởi tình trạng sản xuất vật phẩm nông nghiệp theo phong trào, bị tư thương lũng đoạn nhưng chưa thành công. Trong đó, đáng kể là tập trung hỗ trợ phát triển kinh tế hộ nhưng quá khó trước thực trạng nông dân sản xuất riêng lẻ, mạnh mún; Mời nhà đầu tư "đại gia" đầu tư vào nông nghiệp nhưng cách này thì nông dân mất quyền nhãn hiệu sở hữu trí tuệ, thậm chí mất đất sản xuất; Lập dự án, quy hoạch với kỳ vọng sản xuất lớn thì nông dân "đứng ngoài cuộc" do luôn thiếu tính thực tiễn. Trong khi đó, mô hình kinh tế Hợp tác xã (Luật HTX năm 2012) tối ưu nhưng lại vấp phải khó khăn do trình độ quản lý của nhà nông còn hạn chế. Trong khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng Nông thôn mới gặp rất nhiều khó khăn khi đụng các tiêu chí về thu nhập (từ 10 đến 13). "Từ thực tiễn OCOP Quảng Ninh và tại các nước có nền nông nghiệp phát triển như Nhật Bản, Thái Lan,…chúng tôi khẳng định chỉ có mô hình "Mỗi làng, xã một sản phẩm" giúp thực hiện tốt các tiêu chí từ 10-13 và quan trọng hơn là giải pháp toàn diện để nâng cao giá trị nông sản, kết hợp với phát triển các loại hình kinh tế khác ở nông thôn.", PGS - TS Trần Văn Ơn khẳng định.

Những làng nghề chế biến cá khô ven biển là điểm sáng để triển khai Đề án kết hợp du lịch trong quá trình xây dựng Nông thôn mới. (Ảnh: Phương Bình)

Mô hình "Mỗi xã một sản phẩm" được sinh ra từ Nhật Bản vào thập niên 60, hiện nay lan rộng ra 43 quốc gia khác trên thế giới và tất cả đó đều trở thành những nước có nền nông nghiệp phát triển ở trình độ cao. Khu vực Đông Nam Á, Thái Lan là đất nước đầu tiên đi học hỏi Nhật Bản và thực hiện Chương trình "Mỗi xã một sản phẩm - OTOP Thái Lan". Hiện nền nông nghiệp của Thái Lan đã ở một trình độ chênh lệnh khá lớn so với Việt Nam. Hiện một quả hồng bán ra từ OTOP - Thái Lan nông dân của họ thu lợi cao gấp 16 lần so với quả hồng của nông dân Việt Nam… Quan trọng hơn, những sản phẩm từ Chương trình OTOP đã thúc đẩy mạnh mẽ cho sự phát triển của ngành du lịch Thái Lan.

Tại Việt Nam, tỉnh Quảng Ninh triển khai Chương trình OCOP-QN từ năm 2013, đã trở thành địa phương đầu tiên áp dụng. Sau khi hoàn thành giai đoạn I, ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh đã đạt một số kết quả bước đầu quan trọng, giá trị thu nhập từ nông sản của nông dân tăng lên khoảng 2,5 lần và thúc đẩy mạnh mẽ ngành du lịch phát triển. Trong giai đoạn 2 đến năm 2020, OCOP-QN sẽ vươn đến thành công của thương hiệu mang tầm cỡ quốc gia và đương nhiên chủ thể thực hiện xuyên suốt vẫn không thay đổi và đó chính là nông dân (các doanh nghiệp "đại gia" không được tham gia mà chỉ có thể làm đối tác).

PSG-TS Trần Văn Ơn cũng cho rằng, ngay bây giờ Bến Tre nên chủ động xây dựng đề án riêng theo khung đề án OCOP Quốc gia. Trong đó, đề án riêng phải vạch ra lộ trình cụ thể phát triển sản phẩm từ nông sản, dịch vụ OCOP; xây dựng hệ thống quản lý, thống kê, kiểm soát sản phẩm OCOP; xúc tiến thương mại; đào tạo nguồn nhân lực; xây dựng triển khai các nhiệm vụ, dự án thành phần của Đề án riêng, và trước hết là đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền.