Tình hình triển khai Chương trình Mỗi xã một sản phẩm tỉnh Bến Tre giai đoạn 2018 - 2020

Ngày đăng bài: 09/07/2018 | Tác giả: Duy Thanh

Bến Tre là tỉnh có nhiều lợi thế về nguồn lợi thủy sản, với 65 km chiều dài bờ biển nên thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, tạo ra nguồn tài nguyên biển phong phú với sản lượng được tiêu thụ rộng trên thị trường ngoài tỉnh và đang định hướng xuất khẩu ra nước ngoài như tôm, cua, cá, mực, nhuyễn thể,… Bên cạnh đó, cây ăn quả cũng là thế mạnh của tỉnh với diện tích 28.345 ha tập trung tại các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Giồng Trôm. Đặc biệt, Bến Tre nổi tiếng là vùng đất xứ dừa, với diện tích dừa lớn nhất cả nước là 71.853 ha, sản phẩm từ dừa rất phong phú, đa dạng như cơm dừa nạo sấy, kẹo dừa, nước dừa đóng chai, sữa dừa, dầu dừa, chỉ xơ dừa, than thiêu kết, cơm dừa, hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất từ thân dừa, vỏ dừa, xơ dừa, cọng dừa,… Nhiều sản phẩm bản địa của tỉnh đã được công nhận chỉ dẫn địa lý hoặc nhãn hiệu tập thể như: Bò Ba Tri, Bưởi da xanh Bến Tre, Dừa xiêm xanh Bến Tre, Sầu riêng Cái Mơn, Lúa sạch Thạnh Phú, Rau sạch Hưng Nhượng, Rau sạch Phú Ngãi. Năm 2018, UBND tỉnh đã duyệt chủ trương cho hợp tác xã Tép rang dừa Mỹ Hưng huyện Thạnh Phú đăng ký nhãn hiệu tập thể. Về du lịch, từng bước khởi sắc về lượng khách lẫn doanh thu với các loại hình du lịch sinh thái sông nước miệt vườn Xứ Dừa và các loại hình khác như du lịch về nguồn, thăm các di tích văn hóa lịch sử, du lịch trải nghiệm rừng ngập mặn…

Chương trình mỗi xã một sản phẩm được xem là một trong những chương trình phát triển kinh tế quan trọng của cả nước, là động lực phát triển kinh tế nông thôn, phục vụ có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Chương trình được khởi xướng đầu tiên tại tỉnh Quảng Ninh từ năm 2013, đến nay chương trình đã gặt hái được một số thành công ban đầu. Từ thành công của mô hình này, các địa phương khác trong cả nước đã học hỏi kinh nghiệm trong việc phát huy thế mạnh của sản phẩm truyền thống đặc trưng của địa phương trên cơ sở chuyển đổi các nhóm hộ kinh doanh, cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, tự phát sang hình thức liên kết tập thể, sản xuất tập trung vào sản phẩm có lợi thế của địa phương. Từ đó, tạo ra được nhiều sản phẩm thương hiệu, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần vào sự phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới bền vững. Từ cơ sở nêu trên, tỉnh Bến Tre tiến hành xây dựng và triển khai Đề án Chương trình mỗi xã một sản phẩm tỉnh Bến Tre (OCOP-BT) giai đoạn 2018-2020. Đây được xem là một trong những giải pháp phù hợp và cần thiết được thực hiện sớm để Bến Tre đạt được mục tiêu đề ra trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới của Chính phủ và Chương trình Đồng Khởi khởi nghiệp và phát triển doanh nghiệp của tỉnh.

Về công tác triển khai, UBND tỉnh đã mời Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương chủ trì tổ chức Hội nghị tại tỉnh Bến Tre để hướng dẫn, hỗ trợ địa phương cũng như các tỉnh bạn trong khu vực xây dựng Đề án Chương trình. Đồng thời, Tỉnh ủy đã tổ chức 02 hội nghị cấp tỉnh và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức 01 hội nghị để triển khai Chương trình OCOP đến các cơ quan, địa phương, doanh nghiệp và hợp tác xã trên địa bàn tỉnh. Nội dung triển khai chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu, cách thức tham gia chương trình, hướng dẫn thực hiện các biểu mẫu điều tra, xác định các sản phẩm trên địa bàn tỉnh tham gia chương trình OCOP.

Để triển khai xây dựng đề án Chương trình Mỗi xã một sản phẩm, Bến Tre đã điều tra, khảo sát số liệu về sản phẩm, các tổ chức kinh tế, quy hoạch định hướng phát triển sản phẩm,… trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tiến hành rà soát lại tất cả các cơ chế, chính sách, quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn đã và đang thực hiện trên địa bàn để xem xét, đề xuất cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tế, đặc biệt là phù hợp với lộ trình triển khai thực hiện Chương trình OCOP-BT. Kết quả thông tin thu thập và tổng hợp bước đầu, toàn tỉnh hiện có 26 sản phẩm thế mạnh thuộc 5 nhóm sản phẩm. Trong đó, nhóm thực phẩm có 15 sản phẩm; nhóm đồ uống có 05 sản phẩm; nhóm lưu niệm - nội thất - trang trí có 02 sản phẩm; nhóm dịch vụ du lịch nông thôn có 01 sản phẩm, lĩnh vực khác 03 sản phẩm.

Ngày 05 tháng 6 năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 1186/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề cương Đề án Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm tỉnh Bến Tre giai đoạn 2018-2020. Theo Đề Cương Đề án đã được duyệt, Đề án sau khi hoàn thành sẽ hướng đến tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa chất lượng cao, mang tính đặc trưng, lợi thế của mỗi vùng, miền, đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đồng thời phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh theo hướng gia tăng lợi thế cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế nông thôn theo hướng nội lực và gia tăng giá trị.

Tuy nhiên, đề cương Đề án Chương trình Mỗi xã một sản phẩm mới được phê duyệt nên các hoạt động liên quan đến Chương trình OCOP tại các xã vẫn chưa triển khai cụ thể từng nội dung như: Các sản phẩm tiềm năng OCOP của Bến Tre theo thống kê sơ bộ hiện có khoảng 26 sản phẩm, tuy nhiên do chưa có đánh giá một cách chi tiết về tiềm năng và khả năng cạnh tranh của từng sản phẩm nên chưa xác định được số lượng sản phẩm mà tỉnh có tiềm năng và lợi thế; Các sản phẩm hạn chế về thị trường tiêu thụ, khả năng xúc tiến thương mại còn yếu; Hệ thống tổ chức OCOP từ tỉnh đến huyện chưa được hình thành, còn thiếu và chưa chuyên nghiệp, ở cấp tỉnh hiện tại chỉ có 1 cán bộ kiêm nhiệm, chưa có bộ phận chuyên trách OCOP, ở cấp huyện, xã chưa bố trí được cán bộ chuyên trách, dẫn đến các hoạt động khi thực hiện Đề án sau này khó triển khai tại địa phương. 

Vì vậy, để thực hiện Chương trình OCOP-BT có hiệu quả trong thời gian tới, tỉnh sẽ tập trung thực hiện những giải pháp sau: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện Chương trình đồng bộ từ cấp tỉnh, huyện, xã và người sản xuất; Phát triển sản phẩm nông sản của tỉnh trở thành hàng hóa có giá trị cao, có quy mô lớn, áp dụng khoa học và kỹ thuật vào sản xuất để đảm bảo cả về chất lượng và số lượng.

Đồng thời, cần quan tâm đến chủ thể thực hiện là các thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, trong đó bao gồm các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ hợp tác và hộ sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, tỉnh cần tăng cường công tác xây dựng, quảng bá nhãn hiệu, hình ảnh về các sản phẩm được lựa chọn phát triển trong đề án của tỉnh; Ưu tiên đề xuất các chính sách hỗ trợ đối với hợp tác xã, tổ hợp tác, làng nghề; xúc tiến thương mại; xây dựng thương hiệu; đầu tư trang thiết bị, khoa học kỹ thuật, công nghệ, cơ sở hạ tầng, giống,... phục vụ cho việc phát triển sản phẩm cho vùng sản xuất tập trung; hỗ trợ lãi suất vay vốn cho chủ thể khi tham gia chương trình, mở rộng đối tượng, nội dung và mục đích sử dụng vốn vay, nâng hạn mức vay và số tiền vay được hỗ trợ lãi suất,...; Xây dựng và củng cố tổ chức bộ máy phối hợp thực hiện từ các ngành, các cấp; hệ thống hỗ trợ tư vấn và đối tác chiến lược cho toàn bộ chương trình. Tính hệ thống và tổ chức của chương trình phải được tổ chức chặt chẽ và được trao nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp để thực hiện.